Post: : Admin

Ban Tổ chức Đại Giới đàn Thiện Sanh - Tâm Từ năm 2020 ra đề cương ôn tập khảo hạch Giới tử đăng ký thọ giới Sa di, Sa di Ni.



CÂU HỎI KHẢO HẠCH 

GIỚI TỬ SA DI – SA DI NI

ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN SANH – TÂM TỪ 2020

 


           I.        KINH

1.      “Năng diệt tam kỳ nghiệp” nghĩa là gì?

ĐA:  Dứt nghiệp đã tạo vô lượng kiếp trong quá khứ.

2.                   “A-nậu-đa-la tam-miệu tam bồ-đề” có nghĩa là gì?

ĐA: Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

3.                 “Năng lễ, sở lễ” có nghĩa là gì?

ĐA: Năng lễ: Người lễ, sở lễ: đối tượng được lễ (Phật và chúng sanh).

4.                 “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” có nghĩa là gì?

ĐA: Cách lạy gồm có đầu, mặt, tay, chân áp sát đất (5 vóc gieo sát đất).

5.                 “Thuấn-nhã-đa tánh” nghĩa là gì?

ĐA: Tánh hư không.

6.                 “Thước-ca-ra tâm” nghĩa là gì?

ĐA: Tâm kiên cố.

7.                  “Vô kiến đảnh tướng” là gì?

ĐA: Một trong 32 tướng tốt của đức Phật, là tướng hảo biểu thị trí tuệ của chư Phật.

8.      Đọc “Đệ nhất hội” của Lăng Nghiêm thần chú.

ĐA: Nam mô tát đát tha tô già đa da a ra ha đế tam miệu tam bồ đà tỏa. Tát đát tha Phật đà cu tri sắc ni sam. Nam mô tát bà bột đà bột địa, tát đa bệ tệ. Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà cu tri nẩm. Ta xá ra bà ca tăng già nẩm. Nam mô lô kê a la hán đa nẩm. Nam mô tô lô đa ba na nẩm.Nam mô ta yết rị đà già di nẩm…

9.                  Đọc “Đệ nhị hội” của Lăng Nghiêm thần chú.

ĐA: Ô hồng, rị sắt yết noa, bác lặc xá tất đa, tát đát tha già đô sắc ni sam. Hổ hồng, đô lô ung chiêm bà na. Hổ hồng, đô lô ung tất đam bà na. Hổ hồng, đô lô ung ba ra sắc địa da tam bác xá noa yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, tát bà dược xoa hắt ra sát ta, yết ra ha nhã xà, tỳ đằng băng tát na yết ra…

10.              Đọc “Đệ tam hội” của Lăng Nghiêm thần chú.

ĐA: Ra xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ ni bà dạ, ô đà ca bà dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra chước yết ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà dạ, a ca ra mật rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ, ô ra ca bà đa bà dạ, lặc xà đàng trà bà dạ, na già bà dạ, tỳ điều đát bà dạ, tô ba ra noa bà dạ…

11.             Đọc “Đệ tứ hội” của Lăng Nghiêm thần chú.

ĐA: Bà già phạm, tát đát đa bác đá ra, Nam mô tý đô đế, a tất đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca tát đát đa bát đế rị, thập Phật ra thập Phật ra, đà ra đà ra, tần đà ra tần đà ra, sân đà sân đà. Hổ hồng. Hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn, a ba ra đề ha đa phấn…

12.             Đọc “Đệ ngũ hội” của Lăng Nghiêm thần chú.

ĐA: Ðột sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha ra, già bà ha ra, lô địa ra ha ra, ta bà ha ra, ma xà ha ra, xà đa ha ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha ra, kiền đà ha ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà tỏa ha ra, bác ba chất đa, đột sắc tra chất đa, lao đà ra chất đa, dược xoa yết ra ha…

13.             Đọc “Tiêu tai cát tường thần chú”. 

ĐA: Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm. Á bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm. Ðát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha.

14.             Đọc “Công đức bảo sơn thần chú”.

ĐA: Nam mô Phật đà da. Nam mô Ðạt ma da. Nam mô Tăng dà da. Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.

15.             Đọc “Thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương đà-la-ni”.

ĐA: Án, nại ma ba cát ngỏa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nể, thiệt chất đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nể dã tháp. Án, tát rị ba, tang tư cát rị, bót rị thuật đạp, đạt ra mã đế, cả cả nại tang mã ngột cả đế, ta ba ngỏa tỷ thuật đế, mã hắt nại dã, bát rị ngỏa rị tá hắt.

16. Đọc “Giải oan kiết chơn ngôn”.

ĐA: Án tam đà ra dà đà Ta bà ha.

17. Đọc “Diệt định nghiệp chơn ngôn”. 

ĐA: Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha.

18. Đọc “Diệt nghiệp chướng chơn ngôn”.

ĐA: Án a lổ lặc kế ta bà ha.

19. Đọc “Nhứt tự thủy luân chơn ngôn”.

ĐA: Án noan noan noan noan noan.

20. Đọc “Nhũ hải chơn ngôn”.

ĐA: Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan.

21. Đọc “Cam lồ thủy chơn ngôn”.

ĐA: Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát thiệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, Ta bà ha.

22. Đọc “Nửa bài kệ kinh Hoa Nghiêm” trong thời khóa Công phu chiều.

ĐA:   Nhược nhơn dục liễu tri                    Tam thế nhứt thiết Phật

Ưng quán pháp giới tánh                            Nhứt thiết duy tâm tạo.

23. Đọc “Tứ hoằng thệ nguyện” trong thời khóa Công phu chiều.

ĐA:   Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo Vô thượng thệ nguyện thành.

24. Đọc bài “Tán lễ” trong thời khóa Công phu chiều.

ĐA: Tán lễ Tây phương, Cực lạc thanh lương, Liên trì cửu phẩm hoa hương, bảo thọ thành hàng; thường văn thiên nhạc kiện tương, A Di Ðà Phật đại phóng từ quang, hóa đạo chúng sanh vô lượng, giáng kiết tường, hiện tiền chúng đẳng ca dương, nguyện sanh an dưỡng, hiện tiền chúng đẳng ca dương, đồng sanh an dưỡng.

25. Đọc bài “Thị nhựt” trong thời khóa Công phu chiều.

ĐA: Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc, đại chúng đương cần tinh tấn, như cứu đầu nhiên, đản niệm vô thường, thận vật phóng dật.

26. Đọc bài “Sám Nhất tâm” trong thời Công phu chiều.

ĐA: Nhứt tâm quy mạng, Cực lạc thế giới A Di Ðà Phật, nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã, từ thệ nhiếp ngã. Ngã kim chánh niệm, xưng Như Lai danh, vị Bồ đề đạo, cầu sanh Tịnh độ.Phật tích bổn thệ: nhược hữu chúng sanh, dục sanh ngã quốc chí tâm tín nhạo, xưng ngã danh hiệu, nãi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ chánh giác…

27. Đọc “Phổ cúng dường chơn ngôn”.

ĐA: Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng.

28. Đọc “Thí vô giá thực chơn ngôn”.

ĐA: Án mục lực lăng ta bà ha.

29. Thần chú Đại bi có bao nhiêu chữ “ta-bà-ha”?

ĐA: 14 chữ

30. Đọc “Cam lồ thủy chơn ngôn”.

ĐA: Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, Ta bà ha.

31. Ngũ quán là gì? Kể ra.

ĐA: Ngũ quán là 5 phép quán tưởng trong khi ăn: 1. Nhất kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ; 2. Nhị thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ưng cúng; 3. Tam phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông; 4. Tứ chánh sự lương dược, vị liệu hình khô; 5. Ngũ vị thành đạo nghiệp, ưng thộ thử thực.

32. Đọc “Tịnh tam nghiệp chơn ngôn” 

ĐA: Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám.

33. Đọc “Phật Mầu Chuẩn Đề chơn ngôn”  

ĐA: Khể thủ quy y Tô-tất-đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi. Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn-Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam-mô tát đa nẩm tam-miệu tam-bồ-đề, cu chi nẩm, đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Đề, ta bà ha.

34. Đọc “Quán Âm Linh Cảm chơn ngôn”

ĐA: Án, ma ni bác di hồng, ma hắt nghê nha nạp, tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, tát nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất tháp cát nạp, bổ ra nạp, nạp bốc rị, thưu thất ban nạp, nại ma lô kiết, thuyết ra da, tá ha.

35. Đọc bài kệ “Phổ Hiền hạnh nguyện”.

ĐA:      Nhứt giả lễ kính chư Phật,          Nhị giả xưng tán Như-Lai,
Tam giả quảng tu cúng-dường,   Tứ giả sám-hối nghiệp-chướng,
Ngũ giả tùy-hỷ công-đức,           Lục giả thỉnh chuyển pháp-luân,
Thất giả thỉnh Phật trụ thế,                   Bát giả thường tùy Phật học,
Cửu giả hằng thuận chúng-sanh, Thập giả phổ giai hồi-hướng.

36. Người xuất gia xem thức ăn như thứ gì?

ĐA: Thức ăn như thuốc chữa bệnh đói gầy.

37. Đọc tên các vị Phật ở phương Tây trong kinh A-di-đà. 

ĐA: Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật

38. Đọc tên các vị Phật ở phương Đông trong kinh A-di-đà.

ĐA: A-súc-bệ Phật, Tu-di Tướng Phật, Đại Tu-di Phật, Tu-di Quang Phật, Diệu Âm Phật

39. Đọc tên các vị Phật ở phương Nam trong kinh A-di-đà.

ĐA: Nhựt Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật

40. Đọc tên các vị Phật ở phương Bắc trong kinh A-di-đà.

ĐA: Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Thơ Phật, Nhựt Sanh Phật, Võng Minh Phật


CÂU HỎI KHẢO HẠCH 

GIỚI TỬ SA DI – SA DI NI

ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN SANH – TÂM TỪ 2020


II.            LUẬT

1.     Đọc bài kệ “Tảo giác” (Sớm thức).

ĐA: Thụy miên thỉ ngộ, đương nguyện chúng sanh, nhất thế trí giác, châu cố thập phương. (Ngủ nghỉ mới thức, nên nguyện chúng sanh, tất cả trí giác, nhìn khắp mười phương).

2.                 Đọc bài kệ “Văn chung” (Nghe chuông).

ĐA: Văn chung thanh, phiền não khinh, trí tuệ trưởng, bồ đề sanh, ly địa ngục, xuất hoả khanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh. Án già ra đế da sa ha. (Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, bồ đề sanh, thoát địa ngục, vượt hầm lửa, nguyện thành Phật, độ chúng sanh. Án già ra đế da sa ha).

3.                 Đọc bài kệ “Hạ đơn” (Xuống đơn).

ĐA: Tùng triêu dần đán trực chí mộ, nhất thế chúng sanh tự hồi hộ, nhược ư túc hạ táng kỳ hình, nguyện nhữ tức thời sanh tịnh độ. Án dật đế luật ni sa ha. (Từ sáng giờ dần suốt đến tối, hết thảy chúng sanh tự tránh giữ, nếu rủi mất mạng dưới chân tôi, cầu nguyện tức thì sanh tịnh độ. Án dật đế luật ni sa ha).

4.                 Đọc bài kệ “Xuất đường” (Ra khỏi nhà).

ĐA: Tùng xá xuất thời, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Phật trí, vĩnh xuất tam giới. (Từ nhà đi ra, nên nguyện chúng sanh, vào sâu trí Phật, thoát hẳn ba cõi.)

5.                 Đọc bài kệ “Đăng xí” (Vào nhà xí).

ĐA: Đại tiểu tiện thời, đương nguyện chúng sanh, khí tham sân si, quyên trừ tội pháp. Án ngận lỗ đà da sa ha. (Đại tiện tiểu tiện, nên nguyện chúng sanh, xả tham sân si, loại trừ tội lỗi. Án ngận lỗ đà da sa ha.)

6.                 Đọc bài kệ “Tẩy thủ” (Rửa tay).

ĐA:  Dĩ thủy quán chưởng, đương nguyện chúng sanh, đắc thanh tịnh thủ, thọ trì Phật pháp. Án chủ ca ra da sa ha. (Lấy nước rửa tay, nên nguyện chúng sanh, được tay thanh tịnh, nhận giữ Phật pháp. Án chủ ca ra da sa ha).

7.                 Đọc bài kệ “Ẩm thủy” (Uống nước).

ĐA: Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (Phật nhìn một bát nước, tám vạn bốn ngàn trùng, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha).

8.                 Đọc bài kệ “Ngũ y” (Y năm điều).

ĐA: Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế bất xả ly. Án tất đà da sa ha (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, nay tôi kính tiếp nhận, đời đời không rời bỏ. Án tất đà da sa ha).

9.                 Đọc bài kệ “Thất y” (Y bảy điều).

ĐA: Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế thường đắc phi. Án độ ba độ ba sa ha (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, nay tôi kính tiếp nhận, đời đời thường khoác mặc. Án độ ba độ ba sa ha).

10.             Đọc bài kệ “Đại y” (Y lớn).

ĐA: Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, phụng trì Như lai mạng, quảng độ chư chúng sanh. Án ma ha ca bà ba tra tất đế sa ha (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, phụng hành lịnh Như lai, hóa độ cho tất cả. Án ma ha ca bà ba tra tất đế sa ha).

11.             Đọc bài kệ “Đăng đạo tràng” (Lên đạo tràng).

ĐA: Nhược đắc kiến Phật, đương nguyện chúng sanh, đắc vô ngại nhãn, kiến nhất thế Phật. Án a mật lật đế hồng phấn tra (Được nhìn thấy Phật, nên nguyện chúng sanh, được mắt vô ngại, thấy được chư Phật. Án a mật lật đế hồng phấn tra).

12.             Đọc bài kệ “Cúng tịnh bình” (Cúng bình sạch).

ĐA: Thủ chấp tịnh bình, đương nguyện chúng sanh, nội ngoại vô cấu, tất linh quang khiết. Án thế già lỗ ca sất hàm sất sa ha (Tay cầm bình sạch, nên nguyện chúng sanh, trong ngoài không dơ, sạch sẽ tất cả. Án thế già lỗ ca sất hàm sất sa ha).

13.             Đọc bài kệ “Phu đơn tọa thiền” (Bày đơn ngồi thiền).

ĐA: Nhược phu sàng tọa, đương nguyện chúng sanh, khai phu thiện pháp, kiến chân thật tướng. Chánh thân đoan tọa, đương nguyện chúng sanh, tọa bồ đề tòa, tâm vô sở trước. Án phạ tắc ra, a ni bát ra ni, ấp đa da sa ha (Bày giường ghế ra, nên nguyện chúng sanh, mở bày thiện pháp, thấy được thật tướng. Thẳng mình ngồi ngay, nên nguyện chúng sanh, ngồi tòa bồ đề, tâm không vướng mắc. Án phạ tắc ra, a ni bát ra ni, ấp đa da sa ha).

14.             Đọc bài kệ “Dục Phật” (Tắm Phật).

ĐA: Ngã kim quán dục chư Như lai, tịnh trí trang nghiêm công đức tụ, ngũ trược chúng sanh linh ly cấu, đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân. (Nay con rưới tắm thân Như lai, phước trí trang nghiêm công đức tụ, cầu nguyện chúng sanh hết dơ bẩn, cùng được pháp thân của Như lai.)

15. Tỳ-ni Nhựt Dụng Thiết Yếu có bao nhiêu bài kệ, chú?

ĐA: 54 bài kệ, chú.

16. Sa-di còn có tên gọi khác là gì?

ĐA: Tức từ, Cần sách, Cầu tịch.

17. “Tức từ” có nghĩa là gì?

ĐA: Tức từ nói cho đủ là tức ác hành từ . Nghĩa là đình chỉ việc ác, thi hành từ bi. (đình chỉ những sự ô nhiễm của thế tục mà từ bi tế độ chúng sanh). 

18. Đức Phật chế, trước và sau 5 hạ của người xuất gia như thế nào?

ĐA: Đức Phật chế, người xuất giua 5 hạ đầu tinh chuyên giới luật, sau 5 hạ mới được tham cứu giáo lý, học hỏi tham thiền.

19. Hãy kể 10 giới Sa-di.

ĐA: 1. Không sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3 Không dâm dục; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu; 6. Không đeo vòng hoa, xoa hương phấn sáp vào mình; 7. Không ca múa, hát xướng và cố đi xem nghe; 8. Không được ngồi nằm giường cao tốt rộng lớn; 9. Không được ăn phi thời; 10. Không được cầm giữ vàng bạc, châu báu.

20. Trong 10 giới Sa-di, giới nào là giới tánh, giới nào là giới tướng?

ĐA: Trong 10 giới Sa-di, 4 giới đầu là giới tánh, 6 giới sau là giới tướng.

21. Thế nào là phạm giới trộm cướp?

ĐA: Vật đã có chủ, chủ không cho mà lấy bằng cách chiếm đoạt, trộm cắp, lừa gạt, cho đến trốn thuế, gạt đò v.v… Hoặc tự lấy, hoặc xúi bảo người lấy, hoặc thấy người lấy mà vui theo theo đều phạm giới trộm cắp.

22. Kinh Lăng Nghiêm ghi về một vị tỳ-kheo-ni lén làm việc dâm dục thế nào?

ĐA: Trong kinh Lăng nghiêm ghi, tỷ kheo ni Bảo Liên Hương lén làm việc dâm dục, rồi chính mình tuyên ngôn, rằng dâm dục không phải giết thân ai, không phải trộm của ai, nên không có tội báo, do đó cảm ra thân xuất lửa dữ, đang sống mà vùi xuống địa ngục.

23. Thế nào là nói lời thêu dệt?

ĐA: Nói thêu dệt, là trau chuốt lời nói phù phiếm, từ ngữ hoa mỹ khúc nhạc diễm lệ, lời ca tình tứ, dắt dẫn dục vọng, tăng thêm sầu bi, làm đãng tâm chí của người v.v....

24. Thế nào là đại vọng ngữ?

ĐA: Nếu phàm phu tự nói chứng được thánh quả, như nói đã được quả Tu đà hoàn, được quả Tư đà hàm vân vân, thì gọi là đại vọng ngữ.

25. Hãy cho biết tên và công hạnh của các vị Đại sư trong giới thứ 8.

ĐA: Hiếp Tôn giả một đời hông không dính chiếu, Cao phong Diệu thiền sư ba năm lập nguyện không dính giường ghế, Ngộ Đạt quốc sư nhận pháp tòa trầm hương còn tổn phước mà rước họa.

26. Thế nào là ăn phi thời?

ĐA: Phi thời là quá giờ ngọ thì không phải giờ ăn của tăng sĩ.

27. Hãy cho biết 5 đức của Sa-di.

ĐA: Nhất giả phát tâm xuất gia, hoài bội đạo cố; nhị giả hủy kỳ hình hảo, ứng pháp phụ cố; tam giả cát ái từ thân, vô thích mạc cố; tứ giả hủy khí thân mạng, tôn sùng đạo cố; ngũ giả chí cầu đại thừa, vị độ nhân cố. (Kinh Phước điền nói, sa di phải biết năm đức tính: một là phát tâm xuất gia, vì cảm bội Phật pháp; hai là hủy bỏ hình đẹp, vì thích ứng pháp y; ba là cát ái từ thân, vì không còn thân sơ; bốn là không kể thân mạng, vì tôn sùng Phật pháp; năm là chí cầu đại thừa, vì hóa độ mọi người.)

28. Trong giới thứ 9, vì sao vị Cao tăng khóc? 

ĐA: Trong giới thứ 9, vị cao tăng nghe vị tăng sĩ ở phòng bên cạnh, sau giờ ngọ mà thổi bếp, bất giác rơi lụy khóc thầm, buồn nỗi suy tàn của Phật pháp.

29. Vì sao Đức Phật không cho Sa-di cầm giữ vàng bạc, châu báu?

ĐA: Vì sợ tăng trưởng tham tâm, trở ngại và phế bỏ đạo nghiệp.

30. Đức Phật qui định giường dây kích thước bao nhiêu?

ĐA: Đức Phật qui định giường dây cao không quá tám ngón tay của Ngài.

31. Trường hợp nào Sa-di không đứng dậy chào khi đại Sa-môn đi qua? 

ĐA: Không được ngồi thấy đại sa môn đi qua mà không đứng dậy, trừ lúc đọc kinh, lúc bịnh, lúc cạo tóc, lúc ăn cơm, lúc làm việc tăng chúng.

32. Không được lễ thầy trong các trường hợp nào? 

ĐA: Khi thầy ngồi thiền, thầy kinh hành, thầy thọ thực, thầy thuyết kinh, thầy đánh răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ v.v…, đều không nên làm lễ.

33. Đọc bài kệ “Triển bát” (Mở bình bát).

ĐA: Như lai ứng lượng khí, ngã kim đắc phu triển, nguyện cọng nhất thế chúng, đẳng tam luân không tịch. Án tư ma ma ni sa ha. (Ứng khí của Như lai, nay con được mở ra, nguyện cùng với mọi người, ba luân đều vắng lặng. Án tư ma ma ni sa ha)

34. Đọc bài kệ “Tẩy tịnh” (Rửa sạch).

ĐA: Sự ngật tựu thủy, đương nguyện chúng sanh, xuất thế pháp trung, tốc tật nhi vãng. Án thất lị bà hê sa ha. (Việc xong đến nước, nên nguyện chúng sanh, mau chóng đi đến, trong pháp xuất thế. Án thất lị bà hê sa ha)

35. Tại sao Sa-di không được chiếm chỗ chánh giữa điện Phật lễ bái?

ĐA: Vì đó là chỗ của vị trụ trì.

36. Đọc bài kệ “Ẩm thủy” (Uống nước).

ĐA: Phật quan nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha. (Phật nhìn một bát nước, tám vạn tứ vi sinh, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha)

37. Đối với kinh luật, sa-di học loại nào trước?

ĐA: Sa-di trước học luật, sau học kinh.

38. Đọc bài kệ ngồi thiền.

ĐA: Chánh thân đoan tọa, Đương nguyện chúng sanh, Tọa bồ đề tòa, Tâm vô sở trước.

(Thẳng mình ngồi ngay, Nên nguyện chúng sanh, Ngồi tòa bồ đề, Tâm không vướng mắc.)

39. Đọc bài kệ “Thọ thự” (Thọ trai).

ĐA: Nhược kiến không bát, đương nguyện chúng sanh, cứu cánh thanh tịnh, không vô phiền não. (Thấy Ứng khí trống, nên nguyện chúng sanh, cứu cánh thanh tịnh, trống không phiền não.)

Nhược kiến mãn bát, đương nguyện chúng sanh, cụ túc thành mãn, nhất thế thiện pháp. (Thấy Ứng khí đầy, nên nguyện chúng sanh, chứa đựng đầy đủ, tất cả thiện pháp.)

40. Đọc bài kệ “Kiết trai” (Kết thúc sự thọ trai).

ĐA: Sở vị bố thí giả, tất hoạch kỳ lợi ích, nhược vị lạc cố thí, hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, đương nguyện chúng sanh, sở tác giai biện, cụ chư Phật pháp. (Gọi là bố thí, tất được ích lợi ; vui thích bố thí, sau được an vui. Thọ thực hoàn tất, nên nguyện chúng sanh, việc làm hoàn tất, đủ mọi Phật pháp.)


CÂU HỎI KHẢO HẠCH 

GIỚI TỬ SA DI – SA DI NI

ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN SANH – TÂM TỪ 2020


III.            LUẬN

1. Theo lý, đạo Phật có từ lúc nào?

ĐA: Theo lý, Đạo Phật có từ vô thỉ, vì đạo Phật là bản tánh sáng suốt của chúng sanh, nên có chúng sanh là có đạo Phật; mà chúng sanh có từ vô thỉ nên đạo Phật cũng có từ vô thỉ.

2.  Sau khi đức Phật nhập diệt, sự truyền bá đạo Phật tại Ấn Độ có mấy thời kỳ?

ĐA: Có 3 thời kỳ: 1. Thời kỳ Tôn giả Ca-diếp và A-nan; 2. Thời kỳ Tổ sư Long Thọ, Mã Minh và Vô Trước; 3. Thời kỳ Tổ sư Long Trì, Thiện Vô Úy và Liên Hoa Sanh.

               3. Tại sao ta lại quy y Phật?

ĐA: Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, tù bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn. Vì Phật là người dẫn đường vĩ đại nhất, Ngài đã có kinh nghiệm bản thân thoát ra ngoài vòng sanh tử để chứng đạo.

4. Thế nào là Xuất thế gian Tăng bảo?

ĐA: Các vị Thánh tăng đã thoát ra ngoài sự buộc ràng của thế gian như Bồ-tát Quán Thế Âm, Văn Thù ; tôn gia Ca-diếp, A-nan…

5. Thế nào là “Tự quy y Tăng”?

ĐA: Tự quy y Tăng là nương theo vị thầy trong tâm của mình. Thầy trong tâm của mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình

6. Để bảo tồn lý tưởng cao cả và giữ vững niềm tin trên đường đạo, người quy y phải phát nguyện như thế nào ?

ĐA: Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên thần, quỷ vật; Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo, tà giáo ; Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y tôn hữu, ác đảng.

7. Vì sao đức Phật cấm sát sanh?

ĐA: Có 4 nguyên nhân : 1. Tôn trọng sự công bằng ; 2. Tôn trọng Phật tánh bình đẳng; 3. Nuôi dưỡng lòng từ bi; 4. Tránh nhân quả báo ứng oán thù.

8. Vì sao lại nói: “rượu còn nguy hại hơn thuốc độc”?

ĐA: Thuốc độc uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân hiện tại; chứ rượu uống vào sẽ làm mất giống trí huệ, phải sống đi chết lại vô số kiếp. 

9. Sám hối có mấy cách?

ĐA: Có 4 cách sám hối: 1. Tác pháp sám hối; 2. Thủ tướng sám hối; 3. Hồng danh sám hối; 4. Vô sanh sám hối.

10. Nghi thức “Hồng danh sám hối” do ai soạn, có bao nhiêu danh hiệu Phật, có xuất xứ từ kinh nào ? 

ĐA: Nghi thức Hồng danh sám hối do Bất Động pháp sư đời Tống, Trung Quốc soạn. ngài rút 53 danh hiệu Phật trong kinh “Ngũ Thập Tam Phật”, và 35 danh hiệu Phật trong kinh “Quán Dược Vương Dược Thượng”, cộng với pháp thân đức Phật A Di Đà. Cả thày là 89 danh hiệu Phật.

11. Lễ Phật có mấy cách? Kể ra.

ĐA: Lạy Phật có 7 cách : 1. Ngã mạn lễ; 2. Cầu danh lễ; 3. Thân tâm cung kính lễ; 4. Phát trí thanh tịnh lễ; 5. Biến nhập pháp giới lễ; 6. Chánh quán lễ; 7. Thật tướng bình đẳng lễ.

12.            . Năm món diệu hương cúng dường đức Phật là gì? 

ĐA: Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương.

13. Vì sao ta phải an chay?

ĐA: Có 3 lý do: 1. Vì lòng từ bi và bình đẳng; 2. Vì muốn tránh quả báo luân hồi; 3. Vì hợp vệ sinh.

14. Ăn chay có mấy loại?

ĐA: Ăn chay có 2 loại: chay trường và chay kỳ. 1. Ăn chay trường là ăn chay liên tục mỗi ngày đến suốt đời; 2. Ăn chay kỳ là ăn chay có kỳ hạn trong tháng hay năm: Tháng thì có ăn chay 2 ngày, 4 ngày, 6 ngày, 10 ngày; Năm thì có an chay 1 tháng hay 3 tháng.

15. Cần tránh những điều gì khi ăn chay?

ĐA: Khi ăn chay, không nên kiêu mạn, háo danh, ép xác, giả mặn, quên ngày chay và dùng ngũ vị tân.

16. Ăn chay, bản thân được lợi ích gì trong đời sau?

ĐA: Trong đời sau, không chịu quả báu giết hại, nên không phải trả nợ máu thịt, khỏi phải thường mạng. Nếu trở lại làm người, thì được trường thọ.

17.             Hãy kể Bát quan trai giới.

ĐA: 1. Không được sát sanh; 2. Không được trộm cướp; 3. Không được dâm dục; 4. Không được nói dối; 5. Không được uống rượu; 6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát; 7. Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ; 8. Không được ăn quá giờ ngọ.

18.             Vì sao trong Bát quan trai, đức Phật cấm dâm dục?

ĐA: Phật tử thọ Bát quan trai giới nghĩa là tập tu hạnh xuất gia 24 giờ, thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành, mà cũng không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục, vì đây là nhân sanh tử luân hồi.

19.             Vu-lan-bồn có nghĩa gì?

ĐA: Vu-lan-bồn là phiên âm theo tiếng Phạn. Người Trung Hoa dịch là: "giải đảo huyền", nghĩa đen là cởi trói người bị treo ngược; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược.  

20.             Thế nào là vô thường?

ĐA: Vô thường nghĩa là không thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định; luôn luôn thay hình đổi dạng; đi từ trạng thái hình thành đến biến đổi rồi tan rã... Ðạo Phật gọi những giai đoạn thay đổi của một vật là: thành, trụ, hoại, không (hay sanh, trụ, dị, diệt).

21.             Vô thường có mấy loại? Kể ra.

ĐA: Vô thường có 3 loại: 1. Thân vô thường; 2. Tâm vô thường; 3. Hoàn cảnh vô thường.

22.             Ngũ dục là gì?

ĐA: Ngũ dục là 5 thứ tham muốn: 1. Tham muốn tiền của; 2. Tham muốn sắc đẹp; 3. Tham muốn danh vọng; 4. Tham muốn ăn ngon; 5. Tham muốn ngủ kỹ. (tài, sắc, danh, thực, thùy)

23.             Thế nào là “thiểu dục, tri túc”?

ĐA: “Thiểu dục” là ít muốn những thứ chưa có, “tri túc” là biết đủ những thứ đã có.

24.            Nhân quả có những đặc tính gì?

ĐA: Nhân quả có 4 đặc tính: 1. Nhân nào quả nấy; 2. Một nhân không thể sanh ra quả; 3. Trong nhân có quả, trong quả có nhân; 4. Sự phát triển nhanh, chậm từ nhân tới quả.

25.             Hãy giải thích danh hiệu Thích-ca Mâu-ni.

ĐA: Thích-ca là họ của đức Phật, Trung Hoa dịch là Năng Nhơn, Năng tức năng lực, Nhơn tức từ bi. Mâu-ni là tên của đức Phật, Trung Hoa dịch là Tịch Mặc tức là vắng lặng.

26.             La-hán có mấy nghĩa? 

ĐA: La-hán có 3 nghĩa: 1. Phá giặc tam độc, 2. Đáng nhận sự cúng dường của trời người, 3. Đời sau không còn sanh tử.

27.             Nam-mô có nghĩa là gì?  

ĐA: Nam-mô có nghĩa là Quy y, hay Quy mạng.

28.             Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên là gì? 

ĐA: Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên ngôi tinh xá ở Xá-vệ (Ấn Độ) gồm rừng cây của thái tử Kỳ-đà và tiền của trưởng giả Cấp Cô Độc cùng nhau xây dựng cúng dường đức Phật.

29.             Yết-ma là gì?

ĐA: Yết-ma là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Tác pháp biện sự. Nghĩa là: bao nhiêu việc trong Phật pháp đều do pháp yết-ma này mà thành tựu.

30.             Sa-môn có nghĩa gì?

ĐA: Sa-môn là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là cần tức. Cần nghĩa là siêng năng làm thiện, Tức là dứt hết các điều ác.

31.             Tỳ-kheo có nghĩa gì? Giải thích.

ĐA: Tỳ-kheo có 3 nghĩa: Khất sĩ, phá ác, bố ma. 1. Khất sĩ nghĩa là trên xin giáo pháp đức Phật để nuôi tâm, dưới xin thức ăn của đàn-na để nuôi thân; 2. Phá ác nghĩa là phá trừ các nghiệp ác; 3. Bố ma nghĩa là làm cho ma vương khiếp sợ.

32.             Sa-di có mấy phẩm loại?

ĐA: Sa-di có 3 phẩm loại: 1. Khu ô sa-di; 2. Ứng pháp sa-di; 3. Danh tự sa-di.

33. Đức Phật ra đời vì nhân duyên lớn gì?

ĐA: Đức Phật ra đời vì nhân duyên lớn là: "Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến".

34. Chữ Đạo  trong Đạo Phật có nghĩa gì?

ĐA: Chữ “Đạo”  trong Đạo Phật  có ba nghĩa: 1. Ðạo là con đường; 2. Ðạo là bổn phận; 3. Ðạo là lý tánh tuyệt đối, là bản thể.

35. Chữ Phật nghĩa là gì?

ĐA: Chữ Phật, nói cho đúng tiếng Phạn là Bouddha (Phật Ðà). Người Trung Hoa dịch nghĩa là Giác Giả, (bực đã giác ngộ, sáng suốt hoàn toàn). Giác có ba bực: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

36. “Giác hạnh viên mãn” là gì?

ĐA: Giác hạnh viên mãn: Nghĩa là giác ngộ hoàn toàn đầy đủ cho mình và cho người. Những bậc Bồ-tát, tuy đã giác ngộ cho mình và cho người, nhưng công hạnh chưa viên mãn, nên chưa gọi được là "Giác hạnh viên mãn". Chỉ có Phật mới được gọi là Giác hạnh viên mãn.

37. Ðạo Phật nghĩa là gì?

ĐA: Ðạo Phật là con đường chơn chánh, hoàn toàn sáng suốt đưa đến bản thể của sự vật, là lý tánh tuyệt đối, lìa tất cả hư vọng phân biệt, mà các đấng giác ngộ hoàn toàn đã phát minh ra. Ðạo Phật gồm tất cả tự lợi và lợi tha, tự giác, giác tha và có công hạnh độ mình, độ người được hoàn toàn thành tựu, rốt ráo viên mãn.

38. Cha mẹ của đức Phật tên gì, ở đâu?

ĐA: Cha của đức Phật là vua Tịnh Phạn ở nước Ca-tỳ-la-vệ, mẹ là hoàng hậu Ma-da con gái vua xứ Câu-ly.

39. Hãy kể tên của 12 bộ kinh?

ĐA: 1. Trường Hàng, 2. Trùng Tụng, 3. Cô Khởi, 4. Thí Dụ, 5. Nhân Duyên, 6. Tự Thuyết, 7. Bổn Sanh, 8. Bổn Sự, 9. Vị Tằng Hữu, 10. Phương Quảng (Phương Đẳng), 11. Luận Nghị, 12. Ký Biệt (Thọ Ký).

40. Tăng có nghĩa là gì?

ĐA: Tăng là đoàn thể đệ tử xuất gia của đức Phật, gồm có 4 vị Tỳ-kheo trở lên sống thanh tịnh, hòa hợp với nhau.


CÂU HỎI KHẢO HẠCH 

GIỚI TỬ SA DI – SA DI NI

ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN SANH – TÂM TỪ 2020


IV.            LỊCH SỬ PHẬT GIÁO

1.     Người ta dùng những từ ngữ nào để chỉ sự ra đời của đức Phật? 

ĐA: Khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng chữ Đản sanh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời); hay Thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được); hay Giáng sanh (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sanh ra).

2.                 Trước khi giáng sinh ở cõi Ta-bà, bồ-tát Hộ Minh đã quán sát những gì?  

ĐA: Bồ-tát Hộ Minh ở cõi trời Đâu-suất quán sát 5 việc : 1. Thời; 2. Căn cơ; 3. Quốc độ; 4. Chủng tộc; 5. Sinh mẫu.

3.                 Đức Phật đản sinh vào ngày nào, tại đâu?

ĐA: Đức Phật đản sinh vào ngày mùng 8 tháng 4 (15/4) trước Tây lịch 624 năm tại vườn Lâm-tỳ-ni cách thành Ca-tỳ-la-vệ 15 km, thuộc miền trung Ấn Độ, nay là vương quốc Népal.

4.                 Đức Phật là con của ai, thuộc dòng họ nào?

ĐA: Đức Phật là con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-da, thuộc dòng họ Thích-ca.

5.                 Tên tục của đức Phật thích-ca là gì, có ý nghĩa gì?

ĐA: Đức Phật Thích-ca có tên tục là Sĩ-đạt-ta (tất-đạt-đa), nghĩa là « kẻ phải giữ chức vị mà mình phải giữ ». có sách ghi, Trung Hoa dịch là Nhứt Thiết Nghĩa Thành, nghĩa là thành tựu tất cả mọi sở nguyện.

6.                 Ai đã xem tướng cho thái tử Tất-đạt-đa, tiên đoán những gì?

ĐA: đạo sĩ A-tư-đà xem tướng cho thái tử Tất-đạt-đa, thấy Thái tử có 32 tướng tốt nên đã tiên đoán rằng: nếu Thái tử ở đời sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương, còn xuất gia sẽ thành Vô Thượng Chánh Giác.

7.                 Thái tử Tất-đạt-đa có tài năng và đức hạnh như thế nào?

ĐA: Thái tử Tất-đạt-đa tài sức hơn người, thông minh xuất chúng lại ở trong địa vị cao sang quyền quý tột bậc, Thái Tử không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người. Ngài có một thái độ rất hòa nhã ôn hòa, vô tư, bình đẳng. Lòng thương người, thương vật của Ngài không ai sánh kịp, hễ có dịp giúp đỡ, thì dù khó khăn bao nhiêu Ngài cũng không từ nan. Bởi thế, Ngài được trên Vua cha yêu quý, dưới thần dân kính trọng, nể vì.

8.                  Vua Tịnh Phạn làm gì để buộc ràng chí xuất gia của thái tử Tấ-đạt-đa?

ĐA: Để ràng buộc chí xuất gia của Thái Tử, vua Tịnh Phạn truyền xây dựng ba tòa lâu đài nguy nga tráng lệ để Thái Tử thay đổi nơi ăn chốn ở cho hợp thời tiết quanh năm, và chọn từng trăm cung phi mỹ nữ có tài đàn ca hay, múa giỏi để giải khuây cho Thái Tử. Nhưng chừng ấy cũng chưa đủ Ngài còn làm lễ thành hôn cho Thái Tử với một Công chúa con vua Thiện Giác là Da Du Ða La, một Công chúa tuyệt đẹp và đức hạnh vô cùng.

9.                 Thái tử Tất-đạt-đa đã thấy gì khi dạo các cửa thành?

ĐA: Ra đến cửa Ðông, Thái tử gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, lưng còng, nương gậy lần từng bước ngập ngừng như sắp ngã. Ðến cửa Nam, Thái Tử thấy một người đau nằm trên cỏ, đang khóc than rên siết, đau đớn vô cùng. Ðến cửa Tây, Ngài trông thấy một cái thây chết nằm giữa đường, ruồi lằng bu bám, và sình lên, trông rất ghê tởm. Ngài ra cửa Bắc, gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tỉnh thản nhiên như người vô sự đi ngang qua đường.

10.             Thái tử Tất-đạt-đa đã yêu cầu vua cha những điều gì?

ĐA: Thái tử Tất-đạt-đa đã yêu cầu vua cha 4 điều : 1. Làm sao cho con trẻ mãi không già; 2. Làm sao cho con khỏe mãi không đau ; 3. Làm sao cho con sống hoài không chết; 4. Làm sao cho mọi người hết khổ.

11.             Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia vào ngày nào, tại đâu, năm bao nhiêu tuổi?

ĐA: Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 bên bờ sông A-nô-ma, cách kinh thành Ca-tỳ-la-vệ khoảng 10 dặm. Năm đó, Ngài 19 tuổi. (Nam tông: 29 tuổi)

12.             Sau khi từ bỏ cung vàng, Thái tử Tất-đạt-đa đã theo tu học pháp môn gì, với ai, thuộc giáo phái nào?

ĐA: Sau khi từ bỏ cung vàng, thái tử Tất-đạt-đa đến khổ hạnh lâm học cách tu khổ hạnh với nhóm Bạt-già; nhận thấy cách tu ép xác này không có hiệu quả, Ngài từ bỏ và lần lượt tìm đến học thuyết Nhị nguyên với đạo sĩ A-la-lam và Uất-đầu-lam-phất thuộc phái Số luận tại núi Tân-đà, nước Ma-kiệt-đà.

13.             Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia tìm đạo với mục đích và ý nghĩa gì?

ĐA: Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia tìm đạo với mục đích giải phóng chế độ giai cấp, tư tưởng tôn giáo thần quyền, giúp chúng sanh thoát khỏi sanh già bệnh chết. Ý nghĩa cao cả của việc xuất gia tìm đạo của Ngài là lòng từ bi vô lượng đối với tất cả chúng sanh đang đau khổ.

14.             Suốt 49 ngày đêm nhập định, Thái tử Tất-đạt-đa đã chiến đấu thế nào?

ĐA: Suốt 49 ngày đêm nhập định, Thái tử Tất-đạt-đa đã chiến đấu với nội ma như tahm, sân, si, mạn, nghi…; chiến đấu với ngoại ma như nóng, lạnh, đói, khát…; và Ngài chiến đấu mãnh liệt với Thiên ma do Ma vương Ba-tuần chỉ huy.

15.             Trong đêm thứ 49, thái tử Tất-đạt-đa chứng đắc những gì?

ĐA: Trong đêm thứ 49, vào canh hai, Ngài chứng được quả "Túc mạng minh", thấy rõ được tất cả quá khứ của mình trong tam giới. Ðến nữa đêm, Ngài chứng được quả "Thiên nhãn minh", thấy được tất cả bản thể của vũ trụ và Ngài, nguyên nhân cấu tạo của nó. Ðến canh tư, Ngài chứng được quả "Lậu tận minh", thấy được tất cả nguồn gốc của đau khổ và phương pháp dứt trừ đau khổ để được giải thoát khỏi tư pháp luân hồi. khi sao mai mọc, Ngài chứng được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

16.             Đức Phật thành đạo vào ngày nào, tại đâu, năm bao nhiêu tuổi?

ĐA: Đức Phật thành đạo vào ngày mừng 08 tháng 12 dưới cây Tất-bát-la, núi Già-da nước Ma-kiệt-đà. Năm đó, Ngài 30 tuổi. (Nam tông: 35 tuổi)

17.             Vì sao đức Phật được tôn xưng là đấng Đại hùng đại lực, đại từ đại bi, đại hỷ đại xả?

ĐA: Ðức Phật đã thắng cả ngoại cảnh lẫn nội tâm, đã thắng được giặc Ma vương dục vọng nên được tôn xưng là Ðại Hùng Ðại Lực. Ngài có tình thương chúng sanh rộng sâu như trời bể, thiết tha như tình mẹ thương con nên được tôn xưng là Ðại Từ Ðại Bi. Ngài đã hoan hỷ lìa bỏ ngôi báu cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, đàn hay múa đẹp, mùi ngon vị lạ để sống một đời kham khổ, đạm bạc, thiếu thốn giữa rừng thiêng nước độc không một phút giây nào hối tiếc nên được tôn xứng là Ðại Hỷ Ðại Xả. 

18.             Sau khi thành đạo, đức Phật hóa độ chúng sanh theo nguyên tắc nào?

ĐA: Sau khi thành đạo, đức Phật giáo hóa chúng sanh theo 3 nguyên tắc sau: 1. Hóa độ theo thứ lớp căn cơ; 2. Háo độ tùy phương tiện; 3. Hóa độ theo tinh thần bình đẳng.

19.             Sau khi thành đạo, đức Phật tư duy điều gì?

ĐA: Sau khi thành đạo, đức Phật quán thấy căn cơ chúng sanh thấp kém, làm sao thấu hiểu được chân lý mà Ngài vừa chứng ngộ. Nhưng vì lòng từ bi và đại nguyện mà Ngài nghĩ ngay đến sứ mạng của mình là: Thay thế chư phật đời trước, tiếp tục chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người.

20.             Lần đầu chuyển pháp luân, đức Phật nói pháp gì, độ những ai, tại đâu?

ĐA: Lần đầu chuyển pháp luân, đức Phật nói pháp Tứ Thánh đế (Tứ diệu đế, Tứ đế), độ nhóm 5 người bạn cùng tu khổ hạnh trước đây là: KiềuTrần Như, Bạc Đề, Thập Lực Ca Diếp, Ma Nam Câu lợi và Át Bệ, tại Lộc Uyển (Lộc dã) xứ Ba-la-nại.

21.             Tam chuyển pháp luân là gì? Hãy giải thích.

ĐA: Tam chuyển pháp luân là 3 lần chuyển pháp luân đầu tiên tại Lộc uyển: Thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển. 1. Thị chuyển: Khai thị cho 5 anh em Kiều-trần-như hiểu rõ về pháp Tứ đế; 2. Khuyến chuyển: khuyến cáo tích cực tìm hiểu cái Khổ, trừ cái Tập, chứng cái Diệt, tu cái Đạo; 3. Chứng chuyển: chứng minh tự thân đã thực hành và chứng đạt   

22.             Hãy đọc bài kệ nói Năm thời thuyết kinh của đức Phật?

ĐA:   Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhựt,     A-hàm thập nhị, Phương Ðẳng bát,

                   Nhị thập nhị niên Bát-nhã đàm,        Pháp Hoa, Niết-bàn cộng bát niên.

23.             Đức Phật thuyết thời Hoa Nghiêm bao lâu, có nội dung thế nào? 

ĐA: Đức Phật nói thời Hoa Nghiêm 21 ngày, vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của Ðạo Phật, chủ dích có hai điều: 1. Dẫn dắt các bậc Bồ-tát lên địa vị Ðẳng giác và Diệu giác. 2. Nêu bày giáo pháp rốt ráo của Như Lai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ mà thôi.

24.             Đức Phật thuyết thời A-hàm bao lâu, có nội dung thế nào?

ĐA: Ngài nói Kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho hàng Tiểu thừa dễ nhận, mà lo bề tự tu và tự độ.

25.             Đức Phật thuyết thời Phương Đẳng bao lâu, có nội dung thế nào?

ĐA: Đức Phật nói kinh Phương Đẳng trọn 8 năm, chỉ bày phương pháp giác tha, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp của Tiểu thừa (A-la-hán), để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Ðại thừa Phật giáo.

26.             Đức Phật thuyết thời Bát-nhã bao lâu, có nội dung thế nào?

ĐA: Đức Phật nói kinh Bát-nhã suốt 22 năm, chỉ bày Ðạo lý chân không của Vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp.  

27.             Đức Phật thuyết thời Pháp Hoa – Niết Bàn bao lâu, có nội dung thế nào?

ĐA: Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa và kinh Niết Bàn trọn 8 năm, nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. 

28.             Thời dụng biểu mỗi ngày của Đức Phật thế nào?

ĐA: Thời dụng biểu của đức Phật, mỗi ngày khi trời chưa sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi tắm rửa, thay đổi y phục rồi vào phòng quán cơ cho đến lúc mặt trời xuất hiện. Sau đó Ngài thuyết pháp cho chúng Tăng đến lúc trưa mới nghỉ để thụ trai. Buổi chiều, Ngài thuyết pháp cho Tín đồ các vùng lân cận đến nghe; rồi lại giảng giải những nghi vấn của các Tăng về những vấn đề mà Ngài đã thuyết pháp buổi sáng.

29.             Đức Phật báo tin sắp nhập niết-bàn với ai, Ngài nói thế nào?

ĐA: Đức Phật báo tin sắp nhập niết-bàn với tôn giả A-nan, Ngài nói: “A-nan! Ðạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, nay ta đã có đủ bốn hạng đệ tử: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nhiều đệ tử có thể thay ta chuyển xe pháp, và Ðạo ta cũng đã truyền bá khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các ngươi mà ra đi. Thân hình ta, theo luật vô thường, bây giờ như một cổ xe đã mòn rã. Ta đã mượn nó để chở pháp, nay xe đã vừa mòn mà pháp cũng đã lan khắp nơi, vậy ta còn mến tiếc làm gì cái thân tiều tụy này nữa? A-nan! Trong ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết-bàn”.

30.             Trước khi nhập niết-bàn, đức Phật dặn dò và phú chúc những gì?

ĐA: Trước khi nhập niết-bàn, đức Phật dặn dò và phú chúc như sau: 1. Y, bát của Ngài sẽ truyền cho ông Ma-ha Ca-diếp; 2. Các đệ tử phải lấy giới luật làm Thầy; 3. Ở đầu các Kinh phải nên nêu 4 chữ: “Như thị ngã văn”; 4. Xá lợi của Ngài sẽ chia làm ba phần: một phần cho Thiên cung, một phần cho Long cung, một phần chia cho 8 vị Quốc vương ở Ấn Ðộ.

31.             Trước khi nhập niết-bàn, Đức Phật đã di giáo những lời vàng ngọc gì?

ĐA: - “Này! Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khát, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người!..”. 

- "Này! Các người đừng vì dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quí giá. Chỉ có chân lý cuả Ðạo ta là bất di, bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!”.

32. Đức Phật nhập niết-bàn vào ngày, tháng, năm nào? 

ĐA: Đức Phật nhập niết-bàn vào ngày 15 tháng 2, trước Tây lịch 544 năm.

33. Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề là gì của đức Phật?

ĐA: Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề là đệ tử của đức Phật.

34. Thưở nhỏ, thái tử Tất-đạt-đa văn võ với những ai?

ĐA: Kinh ghi lại rằng, chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên với hai danh sư nổi tiếng về võ là Sằn-đề Đề-bà (Ksantidiva) và về văn là Tỳ-sa Mật-đa-la (Visvàmistra) phải cúi đầu thán phục.

35. Thái tử Tất-đạt-đa cạo tóc ở đâu, trao y phục cho ai?

ĐA: Thái tử dừng lại, cạo bỏ râu tóc khi tới bên kia bờ sông A-nô-ma (Anoma), Ngài trao y phục và đồ trang sức cho Xa-nặc (Channa) và bảo người nô bộc trung thành ra về tạ lỗi cùng phụ hoàng.

36. Thái tử Tất-đạt-đa từng tu khổ hạnh bao lâu, với những ai?

ĐA: Thái tử Tất-đạt-đa bắt đầu tu khổ hạnh kéo dài đến 6 năm với năm anh em ông Kiều-trần-như (Kodanna), Bạt-đề (Bhadhya), Đề-bà (Vappa), Ma-hanam (Mahanama) và Át-bệ (Asaji). 

37. Tam bảo được hình thành vào lúc nào, ở đâu?

ĐA: Tam bảo được hình thành khi đức Phật nói bài pháp Tứ Thánh đế trong lần chuyển pháp luân đầu tiên độ 5 anh em ông Kiều-trần-như xuất gia làm tỳ-kheo tại Lộc Uyển (Ba-la-nại).

38. Vị đệ tử tại gia đầu tiên của đức Phật là ai?

ĐA: Trưởng giả cha của thầy Da-xá (Yasa).

39. Đoàn Tăng sĩ đầu tiên có 60 người gồm những vị nào?

ĐA: Đoàn Tăng sĩ đầu tiên có 60 người gồm có: 5 anh em nhóm Kiều-trần-như và 55 người bạn nhóm Da-xá. 

40. Đức Phật độ những tu sĩ thờ thần lửa là ai, ở đâu, bao nhiêu vị?

ĐA: Đức Phật độ 3 anh em thờ thần lửa là Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (Uruvela Kassapa), Na-đề Ca-diếp (Nadi Kassapa) và Già-da Ca-diếp (Gaya Kassapa) ở tại Ma-kiệt-đà (Magadha). Tất cả có 1,000 vị xin xuất gia.